THÂN TẶNG TẤT CẢ ĐỒNG ĐỘI ĐÃ ĐI QUA CHIẾN TRANH
Phi lộ : Kính thưa quý vị !
Chiến tranh đã lùi xa vào lịch sử, con người sẽ biến đổi theo thời gian, xã hội không ngừng phát triển . Núi non, trời biển ...đều thay đổi duy một thứ vẫn còn nguyên vẹn đó là tình bạn trong chiến tranh. Ở đây tôi xin mượn cách gọi của bạn bè là " TÌNH ĐỒNG ĐỘI ".
Tôi không kì vọng gom được tất cả vũ trụ vào một trang viết nhưng cũng cố gắng hết sức góp nhặt hình ảnh, bài viết, ý nghĩ của mọi người để làm lưu niệm cùng đọc lại . Rất mong mọi người cùng tham gia hưởng ứng .
CHUYỆN CỦA BẠN KỂ :
KỈ NIỆM VIỆT - LÀO

Xuân Xoăn :
KỈ NIỆM VIỆT - LÀO
Cảnh thanh bình
Sau khi chốt ở Pắc Xoòng, đến gần tuần đơn vị chúng tôi được lệnh rút về tuyến sau, cũng vẫn là huấn luyện học chính trị, đón tân binh từ bắc vào để bổ sung cho các đơn vị, đi cải thiện đi kiếm củi về cho nhà bếp đại đội. Đúng là thời gian này, chúng tôi ăn uống có đầy đủ hơn.
Đặc biệt lúc này, chúng tôi ai có tiền kíp của Lào thì ra bản mà mua xà phòng ca may, thuốc lá hút (xin nói là xà phòng ca may của Thái hồi đó nó thơm lắm không như bây giờ, thuốc là salem thì một thằng hút cả trung đội đều ngửi thấy). Thỉnh thoảng chúng tôi cũng mang quần áo ra bản, đổi gà hoặc chó về cho cả trung đội liên hoan. Xin nói ở Lào họ gọi con chó là tuma, con gà là tucay. Nói tóm lại tiếng Lào nó na ná như tiếng Thái của người Việt Nam. Bởi vì sao tôi nói vậy bởi hồi đó có anh em người dân tộc Thái, được bổ sung vào đơn vị, tôi dẫn họ ra bản mà họ nói chuyện với người Lào như gió rồi, trong khi đó mình ở Lào hai năm trời, mà mình chỉ biết những từ như hỏi đường, xin ăn, xin rau, hoa quả, hoặc đổi chác các thứ mà thôi.
Thực lòng mà nói có ở Lào mới biết họ hiền lành và chất phác lắm, và họ cũng rất hảo tâm nhiều lần tôi đi cùi gạo đói tôi vào bản xin ăn họ cho liền. Nhưng với điều kiện đừng có ăn hết típ xôi họ đưa cho, mà bắt buộc phải để lại một ít xôi trong típ cho họ vì họ kiêng, nếu mình ăn hết họ cho là năm tới họ sẽ bị mất mùa. Còn vẫn đói họ lại đưa típ khác cho mà ăn, ăn thoải mái khi nào no thì thôi. Thưa các bạn hồi ấy dân Lào là vậy đấy họ tốt bụng làm sao và cũng thật thà làm sao vì đơn vị tôi ở gần bản nên tối nào không sinh hoạt là chúng tôi lại kéo nhau ra bản chuyện trò, uống rượu phòn năm vông, gái Lào họ cũng thích bộ đội Việt Nam lắm các bạn ạ, chỉ có điều lính tráng bọn tôi chẳng thằng nào dám liều. Bởi vì lớ xớ mà con gái họ có chửa, thì họ kéo cả bản vào đơn vị họ bắt đền. Đơn vị tôi có trường hợp như thế rồi, thằng nào tỉnh ra khua khoắy tí thôi thì còn được.
Thưa các bạn thời gian này đúng là thời hoàng kim của đời lính chúng tôi như các cụ ta ngày xưa thường nói: ”Cuộc vui nào cũng phải có lúc tàn.” Đúng vậy, đến cuối năm 1973, đơn vị tôi lại nhận lệnh sang chiến trường miền Nam chiến đấu, những anh em nhập ngũ năm 67 hoặc 68 từng đã chiến đấu ở chiến trường Bình Trị Thiên họ tỏ ra ngao ngán và bàn tính chuyện B quay. Còn tôi đầu óc quay cuồng suy nghĩ, nhà tôi thì ở trong ngõ chợ Khâm Thiên mà cuối năm 72 Mỹ đánh bom ở ngõ chợ Khâm Thiên ác liệt lắm, thư từ gia đình tôi không nhận được không biết gia đình tôi sống chết thế nào, tôi cũng muốn B quay lắm chứ các bạn nhưng đành phải gác lại những chuyện đó để cùng đơn vị sang miền Nam chiến đấu cho sự nghiệp giải phóng dân tộc.
Đúng 12h đêm ngày mùng 1/1/1974, đoàn xe chở đơn vị chúng tôi chuyển bánh, cũng đúng vào lúc bác Tôn đọc thư chúc tết đồng bào cả nước.
Tạm biệt đất nước Lào, tạm biệt đất nước triệu voi, tạm biệt đất nước của xứ sở hoa chămpa và tạm biệt cả nhân dân Lào, người đã từng đùm bọc, cho chúng tôi ăn khi chúng tôi đói, chỉ đường tránh địch cho chúng tôi không biết đi vào và tạm biệt những cô con gái Lào, đã sưởi ấm cho chúng tôi những khi cô quạnh. Tạm biệt tất cả, tất cả những gì thân thương nhất, và tạm biệt những địa danh mà tôi đã đi qua như Pắc Xoòng, Lào Ngam, Huội Chăm Pi, bản Không Tên, bản Cháy, bản Bèn, Noọng Kin Khao, Mường Phìn, A Tu Pơ, Xalavan, bản Huội Tàu, bản Ca Đáp, Chào tất cả và tạm biệt tất cả.
Sau khi chốt ở Pắc Xoòng, đến gần tuần đơn vị chúng tôi được lệnh rút về tuyến sau, cũng vẫn là huấn luyện học chính trị, đón tân binh từ bắc vào để bổ sung cho các đơn vị, đi cải thiện đi kiếm củi về cho nhà bếp đại đội. Đúng là thời gian này, chúng tôi ăn uống có đầy đủ hơn.
Đặc biệt lúc này, chúng tôi ai có tiền kíp của Lào thì ra bản mà mua xà phòng ca may, thuốc lá hút (xin nói là xà phòng ca may của Thái hồi đó nó thơm lắm không như bây giờ, thuốc là salem thì một thằng hút cả trung đội đều ngửi thấy). Thỉnh thoảng chúng tôi cũng mang quần áo ra bản, đổi gà hoặc chó về cho cả trung đội liên hoan. Xin nói ở Lào họ gọi con chó là tuma, con gà là tucay. Nói tóm lại tiếng Lào nó na ná như tiếng Thái của người Việt Nam. Bởi vì sao tôi nói vậy bởi hồi đó có anh em người dân tộc Thái, được bổ sung vào đơn vị, tôi dẫn họ ra bản mà họ nói chuyện với người Lào như gió rồi, trong khi đó mình ở Lào hai năm trời, mà mình chỉ biết những từ như hỏi đường, xin ăn, xin rau, hoa quả, hoặc đổi chác các thứ mà thôi.
Thực lòng mà nói có ở Lào mới biết họ hiền lành và chất phác lắm, và họ cũng rất hảo tâm nhiều lần tôi đi cùi gạo đói tôi vào bản xin ăn họ cho liền. Nhưng với điều kiện đừng có ăn hết típ xôi họ đưa cho, mà bắt buộc phải để lại một ít xôi trong típ cho họ vì họ kiêng, nếu mình ăn hết họ cho là năm tới họ sẽ bị mất mùa. Còn vẫn đói họ lại đưa típ khác cho mà ăn, ăn thoải mái khi nào no thì thôi. Thưa các bạn hồi ấy dân Lào là vậy đấy họ tốt bụng làm sao và cũng thật thà làm sao vì đơn vị tôi ở gần bản nên tối nào không sinh hoạt là chúng tôi lại kéo nhau ra bản chuyện trò, uống rượu phòn năm vông, gái Lào họ cũng thích bộ đội Việt Nam lắm các bạn ạ, chỉ có điều lính tráng bọn tôi chẳng thằng nào dám liều. Bởi vì lớ xớ mà con gái họ có chửa, thì họ kéo cả bản vào đơn vị họ bắt đền. Đơn vị tôi có trường hợp như thế rồi, thằng nào tỉnh ra khua khoắy tí thôi thì còn được.
Thưa các bạn thời gian này đúng là thời hoàng kim của đời lính chúng tôi như các cụ ta ngày xưa thường nói: ”Cuộc vui nào cũng phải có lúc tàn.” Đúng vậy, đến cuối năm 1973, đơn vị tôi lại nhận lệnh sang chiến trường miền Nam chiến đấu, những anh em nhập ngũ năm 67 hoặc 68 từng đã chiến đấu ở chiến trường Bình Trị Thiên họ tỏ ra ngao ngán và bàn tính chuyện B quay. Còn tôi đầu óc quay cuồng suy nghĩ, nhà tôi thì ở trong ngõ chợ Khâm Thiên mà cuối năm 72 Mỹ đánh bom ở ngõ chợ Khâm Thiên ác liệt lắm, thư từ gia đình tôi không nhận được không biết gia đình tôi sống chết thế nào, tôi cũng muốn B quay lắm chứ các bạn nhưng đành phải gác lại những chuyện đó để cùng đơn vị sang miền Nam chiến đấu cho sự nghiệp giải phóng dân tộc.
Đúng 12h đêm ngày mùng 1/1/1974, đoàn xe chở đơn vị chúng tôi chuyển bánh, cũng đúng vào lúc bác Tôn đọc thư chúc tết đồng bào cả nước.
Tạm biệt đất nước Lào, tạm biệt đất nước triệu voi, tạm biệt đất nước của xứ sở hoa chămpa và tạm biệt cả nhân dân Lào, người đã từng đùm bọc, cho chúng tôi ăn khi chúng tôi đói, chỉ đường tránh địch cho chúng tôi không biết đi vào và tạm biệt những cô con gái Lào, đã sưởi ấm cho chúng tôi những khi cô quạnh. Tạm biệt tất cả, tất cả những gì thân thương nhất, và tạm biệt những địa danh mà tôi đã đi qua như Pắc Xoòng, Lào Ngam, Huội Chăm Pi, bản Không Tên, bản Cháy, bản Bèn, Noọng Kin Khao, Mường Phìn, A Tu Pơ, Xalavan, bản Huội Tàu, bản Ca Đáp, Chào tất cả và tạm biệt tất cả.

Xuân Xoăn :
HỒI ỨC LÍNH BINH BÉT
PHẦN 1
LÍNH TÂN BINH
Bài 3
Ba tháng đầu tiên mặc áo lính*
Thế là lại cầm quyết định nhập ngũ lần 2, không biết lần này có bị ra quân nữa không, trong lòng chán nản vì lần trước cắt hộ khẩu về nhập lại trần ai, khổ quá - mấy tháng liền gia đình không đủ gạo ăn vì đi lính phải cắt sổ gạo (tôi nhập ngũ đợt tiểu đoàn 34 -36 năm 1970, mặc được áo lính đúng một tuần bị trả về; sau này mới hiểu nguyên nhân do " cô người ở" của Ông Bà Ngoại tôi hồi trong Nam, nay cũng đi tập kết ra ( bà người ở này là thành phần cốt cán được bổ nhiệm phó khu Hai Bà Trưng) đã tố gia đình tôi địa chủ phản động. Sau này khi tôi ở chiến trường gia đình liên tục bị đe dọa trấn áp do đồn thổi tôi hồi chánh, chuyện này kể sau. Nhưng cũng xin nói rõ Bà Ngoại tôi tuy là địa chủ, nhưng là địa chủ kháng chiến, Bà ngoại tôi là Mẹ Việt Nam anh hùng được phong đợt đầu tiên vì có 5 con tham gia quân đội, trong đó có 3 con trai là liệt sĩ.
Buồn vui lẫn lộn trong kỳ nhập ngũ này.
Lũ về, lại hoãn, lùi ngày nhập ngũ sang tháng sau. Ừ thì hoãn, quen rồi; tôi tranh thủ ra sông Hồng vớt củi rều. Lũ đưa củi rều về thật nhiều, tha hồ vớt, chỉ sợ không có chỗ chứa. Tất cả củi rều tôi vớt chất đống trước cửa để má tôi ở nhà đun dần; nhìn đống củi rều to ngất, trong lòng thật thanh thản trước ngày lên đường.
Ngày 4.9.1971, từ sáng sớm Má đã giục tôi dậy ăn sáng để còn kịp giờ nhập ngũ. Ra cửa, gặp mấy ông bà hàng xóm đi làm họ chỉ bảo đi mạnh khỏe nhé. Dân thời đó quá quen thuộc cảnh nhập ngũ của thanh niên, họ coi đi lính, đi Nam bình thường như ...chúng nó chỉ về quê chơi ít ngày thôi.
Chiếc xe đạp lọc cọc đã khâu vỏ xe mấy lần của Ba tôi ( ông là trưởng phòng tài vụ thương nghiệp - Bộ Tài chính) đèo tôi đến trường Đại học Bách khoa Hà Nội nhập ngũ; ngồi đằng sau, nhìn chiếc quần cắt 2 ống xoay phía trước ra phía sau để che đoạn đầu gối rách của ông mà thương ông. Sân trường thân nhân thanh niên nhập ngũ đi tiễn ken đặc đông đặc, không thể vào được. Tôi bảo Ba ơi, Ba về đi, đông quá không vào được đâu; ông chỉ kịp nói ...con đi cố gắng hoàn thành nhiệm vụ nghe con. Chào ba, tôi sách túi len lỏi đám đông vào xếp trong hàng quân chờ đọc tên, lên xe khách nhập ngũ.
Tạm biệt Hà Nội nhé ( ngày ấy tâm tưởng trẻ con, chỉ trong nội ô 36 phố phường mới là Hà Nội, còn ra ngoại thành chỉ 20 Km giống như được đi du lịch xa bây giờ), xe chở chúng tôi đến Đại Mỗ thì dừng lại. Đây là làng dệt màn thô, vải chăng đầy ngõ xóm. Ở được 3 ngày chúng tôi nhận quân trang bắt đầu hành quân...
Dọc đường bắt đầu có lính tụt tạt, cán bộ khung chạy lên xuống hàng quân liên tục đôn đốc, quát tháo...đi như chúng mày có mà đánh với đấm. Tiểu đội tôi đến hơn một nửa là dân Gia Lâm quen vất vả ruộng đồng, chuyện hành quân là bình thường. Với tôi, là cư dân Ô Đống Mác thì chuyện đi bộ, lội ruộng, bơi lội chỉ là trò chơi; nhất là những năm sơ tán theo Bộ Tài chính về Quốc Oai thì tôi chỉ thua lính vượt Trường Sơn. Tuy nhiên... có phồng rộp một số nốt ở bàn chân do không quen đi quá xa.
Quốc Oai đây rồi, đơn vị đi tắt qua cánh đồng đâm thẳng vào thôn Nghĩa Hương, đơn vị tôi dừng chân đúng nhà Bà Tám, ngày sơ tán tôi đã từng ở trọ. Gặp lại cố nhân, vui thật vui vì 2 cô con gái chủ nhà giờ xinh quá; ừ mình giờ cũng là anh bộ đội rồi nhé, gọi anh đi..ứ ừ...cứ mày tao chí tớ. Cô gái con chủ nhà nhắc lại những ngày nghỉ học, tôi thường đi xe đạp theo dân làng vào rừng chặt củi từ nửa đêm đến tối mới về, có lần ham chặt đi lạc, bà con tỏa tìm hết hơi.
Nhìn mấy lính Hà cảnh, dân mì chính cánh trong tiểu đội chẳng biết làm chi từ chuyện múc nước, gánh nước, nấu rơm...buộc tôi và mấy thằng Gia Lâm phải đảm đương hết...và cả cuộc đời lính sau này, tôi chuyên là tiểu đội phó có lẽ từ đây.
Tạm biệt làng Nghĩa Hương, Quốc Oai, tạm biệt bạn bè Quốc Oai....mồm thì hẹn, nhưng đến giờ chân chưa bước về lại, nghĩ mà xấu hổ.
Bãi Nai
Với lính tân binh, điều đáng nhớ những tháng ngày huấn luyện quân trường thời trước 1975 có lẽ có nhiều lắm, về nguyên tắc huấn luyện tác chiến cũng na ná giống nhau như tập làm quen với việc đi rừng, leo núi thông qua việc vào rừng chặt nứa về làm doanh trại, chặt củi cho nuôi quân; rồi ngày và đêm lăn lê bò toài, tập bắn các lại súng bộ binh trên thao trường; nhưng có lẽ vất vả nhất vẫn là những đêm hành quân rèn luyện vượt Trường Sơn, đôi vai gầy đeo chiếc ba lô nặng trịch toàn gạch với đất, đôi chân phồng rộp rát buốt đi trên những con đường dài vô tận.
Trong huấn luyện, tác phong thị dân bọn tôi có mặt tương đối khác với lính tân binh nông thôn các địa phương khác như tính tự do dân “kẻ chợ” chưa vào khuôn phép, ăn nói phát ngôn bừa bãi, không theo lời giáo huấn của cấp trên; miệng lính thị dân luôn có vài câu nhạc “vàng”, nhạc phản chiến, có thể “trùm chăn” bất kỳ thủ trưởng nào không thích. Mặt thứ hai là thích nghi với điều kiện môi trường sống mới nhanh, nhưng dễ manh động nên lính tân binh Trung đoàn Thủ đô qua các thời kỳ chiến tranh có rất nhiều kỷ niệm về tính tự do kiểu chỉ biết “ta là con của bố ta, mẹ ta, ta nhớ nhà ta tút**ta về”, rồi rủ nhau công khai “Hà nội hiên ngang tút ban ngày”; thậm chí năm 1970 có một trung đoàn tân binh thủ đô từng mang tiếng chống lệnh, cấp trên phải điều quay lại Bắc để phân loại lính thu dung.
Nhưng với lính Hà Nội nhập ngũ ngày 4.9.71 có một điều không thể nào quên, khi lính ta cứ tưởng người Hà Nội đã quên mất những đứa con một thời nghịch ngợm, trèo me, trèo sấu, gây ầm ĩ trên đường phố rồi; cứ tưởng phía trước mình chỉ còn những đêm dài đeo đất, đeo gạch hành quân trên con đường hun hút, mờ mịt; cứ tưởng… chúng tôi thật không ngờ được Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Tổng tư lệnh quân đội nhân dân Việt Nam tới thăm động viên tinh thần. Cả trung đoàn đã được một lần vinh dự hô vang giữa núi rừng “ Chúc Đại tướng khỏe”, đây là niềm vinh dự của lính binh bét thị dân thủa đó. Người Hà Nội cũng không quên chúng tôi, họ đã gửi các ca sĩ nổi tiếng như Quốc Hương, Kiều Hưng, Thanh Huyền…đến hát cổ vũ những người con thủ đô mặc áo Lính đang dầm mưa, dãi nắng trên thao trường chờ ngày đi chiến trường.
Riêng cá nhân tôi có kỷ niệm thời gian huấn luyện chỉ là ca cóng kiểu tân binh (bài sau).
Rồi cái gì đến sẽ đến, khoảng giữa tháng giêng năm 1972, Trung đoàn tân binh nhập ngũ ngày 4/9/1971 thuộc Quân khu Thủ đô hoàn thành khóa huấn luyện chiến đấu một cách mỹ mãn. Lệnh cấp trên cho toàn bộ lính trung đoàn nghỉ phép để đi B; đêm ấy, cả vùng đất Bãi lai, Lương Sơn, Hòa Bình như không ngủ, lính ra, lính vào lửa đuốc, ánh sáng đèn phin sáng rực đường mòn vào bản; người thì thanh toán nợ nần các quán nước, đứa thì đi bán hoặc đổi nốt quân tư trang lấy ít tiền về phép hay liên hoan.
Ngày hôm sau đơn vị hành quân ngược về Hà Nội, vài ngàn lính trẻ nội thành tỏa dần về năm cửa ô như chất xúc tác thấm dần, thấm dần làm đường phố sôi sục lúc nào không biết; người dân Thủ đô năm đó hình như vui hơn, bọn con gái cùng đôi lứa nhí nhảnh hẳn lên trong ngày giáp tết. Hà Nội những ngày này, phố xá như được mặc áo mới, đường hoa nhất là hoa đào đỏ rực Hàng Lược; Đường Hàng Đào, phố Huế vẫn leng keng tiếng tầu điện ngược xuôi rộn rã, Hà Nội thanh bình, nhộn nhịp người đi sắm tết như chưa hề có cuộc chiến tranh phá hoại, chưa hề có cuộc chia ly nào vậy.
Ảnh lấy trên mạng: Hà nội thời chúng tôi đã sống: Trận lụt lịch sử trước khi chúng tôi lên đường - điều một đoàn tàu chở đầy đá lên cầu Long Biên để trấn rung cầu.
Ghi chú:
1. * đợt đầu sau 3 tháng, một tiểu đoàn bổ sung chiến trường Bình trị thiên và Quảng Đà, 2 tiểu đoàn còn lại 5 tháng sau mới đi B.
2.**Từ “tút” cách nói lóng của bọn tôi thủa ấy, ám chỉ đào ngũ về thăm nhà ít ngày rồi lên đơn vị tiếp tục huấn luyện.
1. * đợt đầu sau 3 tháng, một tiểu đoàn bổ sung chiến trường Bình trị thiên và Quảng Đà, 2 tiểu đoàn còn lại 5 tháng sau mới đi B.
2.**Từ “tút” cách nói lóng của bọn tôi thủa ấy, ám chỉ đào ngũ về thăm nhà ít ngày rồi lên đơn vị tiếp tục huấn luyện.

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét